luật sư riêng

Danh mục chính

Từ khóa liên quan

Tìm hiểu hệ thống văn bản pháp luật quy định về PPP

Tìm hiểu hệ thống văn bản pháp luật quy định về PPP Trong thu hút vốn đầu tư PPP, sự minh bạch và bình đẳng giữa các bên tham gia đóng vai trò hết sức quan trọng.
 
Cùng với đó, môi trường pháp lý cần phải hạn chế tối đa những rủi ro liên quan đến các xung đột về lợi ích. Để làm được điều này, khung pháp lý phải được thiết kế đủ rộng để giúp nhà đầu tư tư nhân tránh các rủi ro, như: rủi ro đấu thầu, rủi ro đàm phán, rủi ro xây dựng, rủi ro đầu tư, rủi ro môi trường, rủi ro ngoại tệ, v.v...
 
Hiện nay, trong khung pháp luật điều chỉnh PPP tại Việt Nam, có hai văn bản có tính pháp lý cao nhất là Luật Đấu thầuLuật Đầu tư. Luật Đầu tư quy định việc quản lý hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước vào tổ chức kinh tế, đầu tư của nhà nước vào hoạt động công ích, đầu tư bằng nguồn tín dụng phát triển. Luật Đấu thầu quy định về quy trình, thủ tục, các hình thức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp đối với các gói thầu của các dự án (từ 30% vốn nhà nước trở lên cho đầu tư phát triển; dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản).
 
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo một ”sân chơi” bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Ngoài một số bảo lưu nhất định, Luật Đầu tư không còn những quy định mang tính phân biệt đối xử bất hợp lý hoặc áp đặt có lợi cho “chủ nhà”. Phần lớn các quy định của Luật, đặc biệt là quy định về ưu đãi, hỗ trợ và đảm bảo đầu tư cũng như các quy định về quyền tự chủ kinh doanh, quyền lựa chọn hình thức đầu tư đều được áp dụng thống nhất đối với tất cả các nhà đầu tư không phân biệt thành phần kinh tế. Nhiều quy định đã dành sự đối xử công bằng và thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài so với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây như các quy định về quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để thành lập và tổ chức kinh doanh, quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quyền góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp Việt Nam, quyền tiếp cận, sử dụng các nguồn tài nguyên theo pháp luật, v.v… Chủ đầu tư tự chịu trách nhiệm huy động các nguồn vốn thực hiện và chịu trách nhiệm về hiệu quả dự án. Các chính sách ưu đãi được thực hiện theo ngành, lĩnh vực và địa bàn nơi dự án thực hiện.
 
Trong lĩnh vực đấu thầu, ở Việt Nam nói chung hiện đang được chia nhỏ và quản lý không tập trung, các quy định về đấu thầu nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật gây nên tình trạng chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các văn bản và gây khó khăn cho các đơn vị thực hiện, cụ thể: Đấu thầu lựa chọn nhà thầu: được quy định tại Luật Đấu thầu, Luật Xây dựngLuật số 38/2009/QH12; Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án có sử dụng đất; thực hiện hợp đồng BOT, BTO, BT: được quy định tại Luật Đầu tư; Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án theo hình thức đối tác công - tư (PPP) : được quy định tại Quyết định 71/2010/QĐ-TTg; Đấu thầu theo phương thức mua sắm tập trung: được quy định tại Quyết định 179/2007/QĐ-TTg, Thông tư 22/2008/TT-BTC; Đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục, dạy nghề, y tế, thể thao, môi trường: được quy định tại Nghị định 69/2008/NĐ-CP; Đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công: được quy định tại Quyết định 39/2008/QĐ-TTg; Đấu thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích: được quy định tại Quyết định 256/2006/QĐ-TTg, v.v…
 
Bên cạnh đó, còn kể tới sự liên quan của các hoạt động PPP với Luật Ngân sách và Luật Xây dựng. Luật Ngân sách nhà nước quy định tổng thể về chi đầu tư phát triển, bao gồm đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do trung ương quản lý; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước; chi bổ sung dự trữ nhà nước và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Luật Xây dựng quy định quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư có hoạt động xây dựng, bao gồm thẩm quyền lập và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng.Phương thức PPP được thực hiện trong đầu tư cho cơ sở hạ tầng, áp dụng đối với các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và cung cấp dịch vụ công. Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh PPP mới nhất là Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư. Tuy nhiên trước đó một số loại hình PPP đã được áp dụng tại Việt Nam dựa trên các văn bản pháp luật quy định một số hình thức của PPP như BOT, BTO. Đó là:
 
- Nghị định 77/CP ngày 18/6/1997 của Chính phủ ban hành Quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT);
 
- Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ ban hành các Quy chế đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Xây dựng - Chuyển giao (BT) áp dụng cho đầu tư 130nước ngoài tại Việt Nam; và Nghị định số 02/1999/NĐ- CP ngày 27/1/1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 62/1998/NĐ-CP;
 
- Nghị định số 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao;
 
- Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao.
 
 Tính đến thời điểm hiện nay, các văn bản còn hiệu lực thi hành gồm Nghị định 108/2009/NĐ-CP, Nghị định 24/2011/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 108/2009/NĐ-CP và Quyết định số 71/2010/QĐ-TTg nêu trên.
 
Ngoài ra, ngay trong quy định của ba văn bản trên cũng nêu rõ, trong một số điều khoản cụ thể, liên quan thực thi theo quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật Đấu thầu, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Quản lý Ngoại hối v.v.., các nghị quyết của Quốc hội, các nghị định hướng dẫn thi hành các luật nêu trên và các nghị định khác của Chính phủ. Trong khuôn khổ của báo cáo, nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu ba văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp khuôn khổ thể chế điều chỉnh PPP đã nêu mà không đi vào đánh giá những văn bản liên quan.
 
Nhằm hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc tham gia vào dự án hợp tác công tư PPP, Văn phòng luật sư Nam Hà Nội cung cấp dịch vụ tư vấn về các vấn đề pháp lý liên quan đến PPP.
 
Với đội ngũ luật sư và các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn dự án, chúng tôi tin rằng sẽ đem tới những dịch vụ tốt nhất cho Quý khách hàng.
 
 
Tòa nhà HSLAWS, Số 183 Trường Chinh, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội.
Điện thoại VP: 04 3724 6666 ; Di động : 090 574 6666
Các từ có liên quan đến bài viết: Tìm hiểu hệ thống văn bản pháp luật quy định về PPP

Phản hồi khách hàng

 

Ý kiến của bạn

Họ tên:  
Email:
Nội dung:  
Mã bảo vệ:   ZOQCYY