Điều 137
Hiến pháp năm 1992 quy định: “
Viện kiểm sát nhân
dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất…” Như vậy, kiểm sát các hoạt động tư pháp và
thực hành quyền công tố là chức năng duy nhất của
viện kiểm sát nhân dân.
-
Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao: là người
đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao và toàn bộ hệ thống cơ quan kiểm sát.
Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo việc thực hiện nhiệm vụ, kế
hoạch, công tác kiểm sát và xây dựng viện kiểm sát nhân dân về mọi mặt, quyết
định những vấn đề về công tác kiểm sát không thuộc thẩm quyền của Ủy ban kiểm
sát; quy định bộ máy làm việc của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao trình Ủy ban
thường vụ Quốc hội phê chuẩn; quyết định bộ máy làm việc của viện kiểm sát nhân
dân địa phương; ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, điều lệ, quy chế, chế
độ công tác áp dụng đối với ngành nghề kiểm sát.
-
Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thành
phần gồm có: Viện trưởng, các phó viện trưởng, một số kiểm sát viên do Ủy ban
thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao. Hoạt động của Ủy ban kiểm sát là trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ
Quốc hội những phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác của toàn ngành, dự án
Luật, Pháp lệnh. Hoạt động của
Ủy ban kiểm sát có đặc thủ riêng là: nếu viện
trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực
hiện theo quyết định của đa số nhưng có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội
Chủ tịch nước. Đây là quy định mở xuất phát từ đặc thù chức năng của
viện kiểm
sát nhằm đề cao trách nhiệm viện trưởng, tạo hiểu quả cao hơn trong vai trò
lãnh đạo ngành kiểm sát.
- Các cục, vụ, viện, văn phòng và trường đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ kiểm sát.